Honda Accord: 40 năm một chặng đường ấn tượng

Trong số này, đáng chú ý nhất chính là VTEC – thứ đã nhanh chóng trở thành một đỉnh cao của công nghệ động cơ xe hơi nhiều năm

Nhìn vào thị trường xe Việt Nam vào lúc này và ví von một cách hài hước, chúng ta sẽ thấy Camry như một cô gái trẻ nhà lành ngoan hiền, không quá xuất sắc về mọi mặt nhưng lại dễ dàng trở thành sự lựa chọn của “nửa kia, Teana như một mệnh phụ phu nhân mang trong mình sự trầm tĩnh đầy bản lĩnh. Trong khi đó, Mazda6 giống như một “hot girl”, nhanh chóng thu hút và chinh phục ánh nhìn của bất kì ai ngay từ lần đầu tiên chạm mặt còn Accord – với vẻ đằm thắm và từng trải của một quý cô U30 dù luôn được mọi người ca tụng nhưng lại ẩn chứa nét gì đó “khó với” trong suy nghĩ của số đông.

Sự so sánh này phản ánh khá đúng thực trạng thị trường xe hiện nay trên thực tế. Camry liên tục duy trì vị thế mức doanh số “khủng” đầu bảng – chỉ đôi khi bị vượt mặt bởi Mazda6 thì Teana dường như lặng lẽ chinh phục những khách hàng khó tính theo một cách riêng. Duy nhất chỉ có Accord, mặc dù đạt được những thành công rực rỡ tại thị trường hải ngoại vẫn gặp phải những khó khăn trong việc tiếp cận và “lấy lòng” khách hàng “đại trà” trong nước – bất kể dưới vai trò của một mẫu xe mang chất sôi động mạnh mẽ hay trầm lắng thực dụng. Tại sao lại như vậy?

thế hệ đầu tiên xuất hiện vào năm 1976.

Dù là điều có vẻ khó tin, mẫu xe Accord của Honda sẽ tiến tới sát mốc tuổi 40 vào năm tới. Sau khi xuất hiện lần đầu vào năm 1976, Accord đã có những bước tiến vượt bậc, từ một mẫu xe non trẻ thuộc chiếu dưới trở thành nhà vô địch tại nhiều thị trường lớn – đặc biệt là Mỹ. Trong khi đó, bối cảnh thị trường xe Việt Nam cũng đang dần có những chuyển biến mới hết sức khác biệt so với nhiều năm vừa qua – khi trong thị hiếu người tiêu dùng, những chiếc xe từ một thứ tài sản giá trị dần trở thành phương tiện giao thông thiết yếu. Chúng cũng từ chỗ là thước đo sự thành đạt, chạy theo xu hướng đám đông trở thành một công cụ mang đậm nét cá nhân, cá tính và những khác biệt của mỗi người.

Điều gì khiến Accord … là một chiếc ACCORD?
Thực tế, trong suốt 40 năm tồn tại, Accord liên tục được mở rộng một cách đồng đều cả về công suất, kích thước, tiện nghi, chất công nghệ và vật liệu – điều hiếm thấy với một mẫu xe châu Á hay thậm chí là Mỹ. Quan trọng hơn cả, những bước tiến táo bạo này lại không đồng nghĩa với sự kém ổn định về mặt vận hành – hay nói cách khác là độ bền bỉ.

Thêm vào đó, chính quan điểm của Soichiro – nhà sáng lập nên thương hiệu Honda về việc xe hơi không chỉ đơn thuần là một phương tiện đã đặt nền móng cá tính cho Accord ngay từ ngày đầu có mặt và lý giải cho sự gắn bó đáng ngạc nhiên đến vậy đối với mỗi chủ nhân. Mỗi thế hệ Accord đều được phát triển xoay quanh trọng tâm là sự kết nối, tình cảm và trải nghiệm đối với cá nhân người lái. Điều này giúp cho chiếc xe từ chỗ vô danh đã trở thành một phần trong văn hóa xe hơi nước Mỹ – điều mà hầu như không chiếc xe Nhật nào làm được thời bấy giờ và cũng chẳng mấy thành công ngay cả về sau này. Đó chính là những bí quyết đưa chiếc xe Accord trở thành biểu tượng ACCORD với vị trí khó có đối thủ nào khác có thể bắt chước được.

Sự kết hợp hài hòa giữa chất thể thao và tính thực dụng
Như nhiều người đã biết, cái tên Accord lần đầu xuất hiện trên bản đồ xe hơi thế giới là vào năm 1976 – khi thế hệ đầu tiên của dòng xe này được Honda đưa ra thị trường. Ngay trong giai đoạn này, công nghệ CVCC của Honda đã giúp hãng nhanh chóng đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải vốn được xem là khắt khe. Bản thân việc chọn cái tên Accord cũng được cho là nhằm thể hiện “đam mê hướng tới sự cân bằng và hài hòa giữa con người, cộng đồng và chiếc xe” của Honda.

Dù ích lợi về mặt kinh tế đem lại cho hãng xe Nhật khi theo đuổi quyết định này vẫn là dấu hỏi nhưng dễ thấy rằng, quyết định của hãng sẽ đồng nghĩa với những chiếc xe cá tính hơn, chú trọng hơn tới người tiêu dùng đơn lẻ thay vì xóa nhòa mọi thứ để thỏa mãn số đông – điều mà bất cứ chiếc xe dịch vụ nào cũng thường hướng tới.

Accord bước sang thế hệ thứ hai vào năm 1982 với nền tảng kĩ thuật hoàn toàn mới.

Ngay sau thế hệ đầu tiên rất thành công trong việc kết hợp giữa tính thể thao và tính hiệu quả, Accord bước sang thế hệ thứ hai vào năm 1982 với nền tảng kĩ thuật hoàn toàn mới. Trong giai đoạn này, xe có kích thước lớn hơn trước đây, lần đầu sở hữu hộp số tự động bốn cấp (1983). Trong khi đó, thay đổi được hoan nghênh nhất chính là việc dung tích động cơ tăng thêm (1751cc lên 1830cc) cùng sự hiện diện của hệ thống phun xăng đã cho phép công suất đạt tới 101 mã lực trong khi giảm mức tiêu thụ nhiên liệu tới mức được các chuyên gia và giới truyền thông đánh giá là “tốt hơn bao giờ hết”.

Sau khi đã nhận được sự chấp nhận từ cộng đồng và không còn là tay chơi mới, Accord bước sang thế hệ thứ ba với nhiều thách thức không chỉ bởi nhiệm vụ duy trì tên tuổi trên đà phát triển mà cả sự cạnh tranh từ các thương hiệu khác – vốn đã lờ mờ nhận ra một mối đe đọa hiển hiển mới từ đất nước mặt trời mọc. Thương hiệu xe của Honda cũng được công chúng tại đất nước có nền văn hóa xe hơi lâu đời chấp nhận sau hai thế hệ với mức doanh số đầy ấn tượng.

Kể từ 1986, Accord sở hữu ngoại hình mang chất thể thao nhiều hơn – song song với những cải tiến về hệ thống treo đặc biệt tiên tiến ví dụ như sự hiện diện của hệ thống giảm xóc xương đòn kép ở cả trước và sau, trọng tâm xe hạ thấp, chỉ số khí động học được cải thiện, hiệu năng tăng cường (động cơ lần đầu được tăng lên mức 2.0L với 110 mã lực khi đi kèm hệ thống phun xăng thay vì chế hòa khí kiểu cũ). Honda cũng lần đầu sản xuất hoàn toàn cục cưng của họ từ nội địa Mỹ này và nhanh chóng đưa Accord trở thành sản phẩm mang tính biểu tượng của Nhật Bản tại đây.

Kể từ 1986, Accord sở hữu ngoại hình mang chất thể thao nhiều hơn – song song với những cải tiến về hệ thống treo đặc biệt tiên tiến.

Trong thế hệ thứ tư và thứ năm, Accord tiếp tục thể hiện những nâng cấp đậm chất thực dụng nhưng không hề rời xa tôn chỉ thể thao của mình. Kích thước tăng thêm đã khiến chiếc xe lần đầu bước vào phân khúc sedan cỡ trung Tuy nhiên, để giữ vững chất sôi động, Honda tiếp tục nâng công suất động cơ lên 130 mã lực với loại 2.2L (thế hệ thứ tư) và V6 2.7L 170 mã lực trong thế hệ thứ năm cùng hàng loạt các công nghệ mới lần đầu được công bố.

Trong số này, đáng chú ý nhất chính là VTEC – thứ đã nhanh chóng trở thành một đỉnh cao của công nghệ động cơ xe hơi nhiều năm sau đó. Song hành với những cải tiến này là sự xuất hiện của chế độ thể thao ở hộp số tự động cho phép người dùng lần đầu tự tay chọn cấp số theo ý muốn. Tất cả những tiền đề này đã góp phần quan trọng mở đường cho Accord thế hệ thứ sáu trở thành mẫu xe mang tính biểu tượng tại thị trường Mỹ và độc chiếm sân chơi sedan cỡ trung.

Điều thú vị là cũng từ thế hệ thứ sáu (2003-2007) này, Honda dần tách biệt Accord theo hai hướng (một phiên bản phát triển riêng cho Nhật và Châu Âu, một phiên bản dành cho Bắc Mỹ) nhằm đáp ứng tốt hơn sự đa dạng về nhu cầu tại các thị trường khác nhau.

Từ thế hệ thứ sáu (2003-2007) này, Honda dần tách biệt Accord theo hai hướng (một phiên bản phát triển riêng cho Nhật và Châu Âu, một phiên bản dành cho Bắc Mỹ).

Chiếc sedan Accord cũng bắt đầu bước vào một cuộc chơi mới với những tiêu chí phát triển hoàn toàn mới về khí thải, độ an toàn – bước đi cực kì hợp lý sau khi đã chinh phục hoàn toàn sân chơi hiệu năng và tính năng. Dù vậy, chiếc xe cũng không hề lãng quên gốc gác thể thao của mình khi tiếp tục được nâng mức công suất, cải thiện giảm xóc và hộp số – những tiền đề quan trọng cho một bước nhảy vọt về hiệu suất trong thế hệ thứ bảy (2003).

Như thế, bất chấp tự đặt mình vào phân khúc xe gia đình bốn cửa có phần nhàm chán, Accord luôn biết cách tạo ra khác biệt và chinh phục khác hàng có yêu cầu cao về xe với hệ thống cơ khí sắc sảo – phù hợp cho việc vận hành linh hoạt. Đây cũng chính là bí quyết tối thượng giúp chiếc xe luôn tách biệt hẳn với các đối thủ trong cùng phân khúc.

Related posts:

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *